Văn học với nhiệm vụ đưa văn hóa thấm sâu vào đời sống*

Văn học với nhiệm vụ đưa văn hóa thấm sâu vào đời sống*

                                                                                                         Hữu Thỉnh

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đưa ra một phương hướng rất quan trọng về phát triển văn hóa, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể, từng địa bàn dân cư, vào mọi sinh hoạt và các mối quan hệ con người. Muốn thực hiện được nhiệm vụ chiến lược đó, trước hết cần phải tạo ra các giá trị mới và đi tìm các mẫu số chung.

1. Tạo ra các giá trị mới

Một trong những truyền thống tốt đẹp của văn học nước ta là xu hướng nhập thế. Giống như các vị cao tăng, càng tu luyện đắc đạo càng khắc khoải với đời. Vẫn một tư thế thường trực và nhập cuộc triệt để trong chiến tranh, bước vào đổi mới, văn học nước ta đã sớm tạo ra những bước đột phá vào cơ chế quản lý tập trung bao cấp thời chiến, một cơ chế từng phát huy ưu điểm trong chiến tranh nhưng đã bị kéo dài và tạo ra sự trì trệ, kìm hãm phát triển kinh tế - xã hội trong thời bình. Những Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc, Vua Lốp của Trần Huy Quang, Người đàn bà quỳ của Lê Khắc, Thủ tục làm người còn sống của Minh Chuyên... tạo ra hiệu ứng xã hội tích cực như là sự cung cấp năng lượng tinh thần cho tiến trình đổi mới của văn học.

Được khơi nguồn cho một dòng chảy mới nhiều tập truyện ngắn, tiểu thuyết hối hả ra đời, tiếp tục tiếp cận quan hệ con người và các giá trị đạo đức. Thông điệp văn hóa chủ yếu và quan trọng nhất là chủ để đạo đức. Đó là cái mà văn học đang dành sự ưu tiên đặc biệt chuyển tải vào đời sống. Với chủ đề đạo đức xã hội, vấn đề ca ngợi hay phê phán thực chất cũng nhằm để trả lời những câu hỏi về lẽ sống và lối sống, về những khế ước thành văn và bất thành văn giữa con người với con người. Bằng sự nhạy cảm và tinh tế vốn có, văn học nước ta đã sớm chỉ ra rằng chăm lo đến lợi ích là một tiến bộ xã hội và là một bước nhân đạo hóa các quyền con người. Nhưng do sự phân công tự nhiên cùng với việc làm chủ các nguồn lực tự nhiên và quyền hạn kinh tế trong các lĩnh vực khác nhau, và lại nữa, do thiếu một bàn tay kiểm soát và điều chỉnh thích ứng, người ta trong vô thức và hữu thức đã dựng lên những bức tường lợi ích ngăn cách con người với con người. Bất công xã hội bắt đầu nảy sinh, kéo theo bao tâm trạng xã hội phức tạp. Dưới tác động mặt trái của cơ chế thị trường, những cỗ máy săn lùng lợi ích, hăm hở xông vào mọi ngõ ngách mà không cần sự cho phép, trở thành lợi ích bất chính, cỗ xe săn lùng lợi ích bất chính đi đến đâu thì cuộc sống an lành của con người lại bị thu hẹp đến đó. Trước tình thế đó, con người lương thiện tự bảo vệ bằng cách nào? Người ta trông đợi lương tâm. Mà lương tâm lại là thiên chức và thế mạnh của văn học, nghệ thuật. Brodsky, nhà thơ Mĩ gốc Nga, giải thưởng Nobel văn học năm 1987 đã nói: “Nếu như cái tiêu cực tồi tệ nhất của con người là sự giết người thì cái tích cực lớn nhất là sự sáng tạo văn học, nghệ thuật”. Và ông còn nói thêm: “Cái đẹp là mẹ đẻ của đạo đức”. Văn học, nghệ thuật đưa văn hóa thấm sâu vào đời sống là qua lương tâm để đánh thức lương tâm, qua cái đẹp và sự thật để cảm hóa con người. Tới đây xuất hiện hai vấn đề:

Một là, muốn đưa văn hóa vào đời sống, văn học phải trở thành văn hóa. Không phải bất cứ tác phẩm nào cũng có khả năng đưa văn hóa thấm sâu vào đời sống mà phải là những tinh hoa. Chỉ có những tác phẩm hay, thực sự có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật mới có khả năng tạo ra phép màu nhiệm chinh phục con người. Những tác phẩm như thế, thời nào cũng hiếm. Cho nên, vấn đề cấp bách thường xuyên là tập trung mọi cố gắng để nâng cao chất lượng sáng tác.

Trong công việc khó khăn này, thuận lợi thì nhiều, mà khó khăn cũng lắm, trong đó có những khó khăn chưa từng có. Đó là sự pha loãng và nhiễu loạn của những quan niệm mĩ học xa lạ thẩm thấu từ nhiều nguồn. Đó là áp lực của văn hóa nghe nhìn và thông tin mạng. Nhu cầu giá trị là hoàn toàn chính đáng. Nhưng tuyệt đối hóa nó và để nó phát triển tới mức vô giới hạn như hiện nay là hạ thấp các chuẩn mực văn hóa, làm méo mó thị hiếu của công chúng. Xu hướng rút lui vào hình thức, bịt kín mối giao cảm với công chúng tuy đã bị phê phán nhưng vẫn còn, đang gây ngộ nhận cho một số cây bút trẻ. Bệnh xa rời đời sống, hời hợt và dễ dãi trong lao động nghệ thuật là nguyên nhân chính của sự xuất hiện quá nhiều những tác phẩm làng nhàng, trung bình, vô thưởng, vô phạt. Công tác lý luận, phê bình mấy năm gần đây đang được xốc lại đội ngũ và có những chuyển động bước đầu nhưng nể nang, né tránh và thiếu đổi mới về lý luận là những hạn chế cần sớm được tập trung khắc phục.

Hai là, văn học, nghệ thuật muốn đưa văn hóa thấm sâu vào đời sống thì đời sống cũng phải có vốn đối ứng để tiếp nhận văn hóa. Người ta có đủ no và đủ ấm thì nhu cầu của đời sống văn hóa tinh thần ngày càng cao. Về điểm này, Tagor đã có những thuyết giải rất hay, đáng được tham khảo, suy ngẫm. Ông viết: “Ở động vật, những thể hiện cảm xúc ít ra khỏi giới hạn hữu ích của chúng. Còn ở người, tuy vẫn còn gốc rễ trong các mục đích ban đầu, nhưng chúng vươn cành nhánh của chúng xa và rộng trong bầu trời cao vô hạn trên mảnh đất của chúng. Người có một vốn năng lượng cảm xúc không phải dành hết cho sự tồn tại. Cái thặng dư đó tìm lối ra trong việc sáng tạo nghệ thuật, vì văn minh con người được xây dựng trên thặng dư của mình”. Như thế có thể xem xóa đói, giảm nghèo, trước hết là vấn đề kinh tế, đồng thời cũng là sự dọn đường để tiếp nhận văn hóa. Những câu danh ngôn rất hay về sách liệu có ý nghĩa gì trước một người không biết chữ và không có tiền mua. Nhưng đấy mới là điều kiện vật chất. Cái khó nhất và công phu hơn là dân trí. Nhân đây, xin nhắc lại câu nói của Nhất Linh: “Nền văn hóa ở một nước cao hay thấp không phải ở chính các nhà văn mà chính ở độc giả”. Như vậy, người đọc cũng phải được đào tạo. Vấn đề đặt ra liên quan trực tiếp đến việc dạy văn, học văn trong nhà trường. Hình như phương pháp trắc nghiệm và cơ giới hóa khi giải phẫu các tác phẩm văn chương như hiện nay không đạt được hiệu quả mong muốn giữa kiến thức vàtâm hồn, văn chương chọn cái thứ hai.

2. Đi tìm mẫu số chung

Người ta gán cho nhà văn nhiều danh hiệu, người phát ngôn, thư ký, chiếc phong vũ biểu của thời đại... Nhưng trước sau công việc của anh ta chỉ có một: phản ánh cho hay, cho “chân thật và hùng hồn” cuộc sống và khát vọng của nhân dân như Bác Hồ đã nói. Muốn vậy, anh ta phải hiểu đời sống và hiểu người, phải đại diện cho một cái gì đó, nghĩa là phải ký tuyên bố chung với đời sống. Tố Hữu nhiều lần nói đến sự đồng điệu, sự tri kỷ giữa nhà văn với bạn đọc: “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí”. Khi ông tuyên bố: “Tôi đã là con của vạn nhà/ Là em của vạn kiếp phôi pha, đó không chỉ là tiếng reo vui khi tìm thấy một lý tưởng xã hội, mà còn là niềm hạnh phúc được làm nhà thơ của nhân dân. Để câu chuyện phù hợp với thời hội nhập, tôi xin trích ý kiến của một người đến từ phương Tây, Don Marquis. Ông nói: “Xuất bản một tập thơ cũng như vứt cánh hoa hồng xuống vực thẳm mịt mù và chờ đợi cái tiếng vang”. Tiếng đó là hồi âm của đời sống, là sự bỏ phiếu của bạn đọc đối với tác phẩm của nhà văn. Đi tìm mẫu số chung, câu chuyện đã thuộc về quá khứ nhưng không hiểu vì lý do gì mà giờ đây nó lại trở thành vấn đề thời sự, đã thấy không đến nỗi quá ít những người làm thơ tuyên bố tôi chỉ làm thơ cho tôi, để cho tôi đọc. Cùng một giọng điệu như vậy, mới đây có người nói nhà văn không cần có mẫu số chung. Vì là câu chuyện văn chương nên tôi xin dẫn ra đây quan điểm của một bậc thầy văn chương, vẫn Brodsky, nhà thơ nói: “Trong bất luận trường hợp nào, tình trạng nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng là tài sản (đặc quyền) của thiểu số trong xã hội đối với tôi là không lành mạnh và đầy nguy cơ”. Một trong những nguy cơ ấy đã xuất hiện là số người đọc văn học bây giờ thấp đến mức báo động đỏ. Nguyên nhân có thể ở chất lượng văn học, có thể do áp lực của thông tin, của công việc nhưng nguyên nhân sâu xa là do người đọc không tìm thấy họ giữa các trang sách. Thơ bỏ đời thì đời cũng bỏ thơ. Cảm thấy xarời đời sống còn chưa đủ, có người còn đẩy vấn đề đến chỗ cực đoan hơn. Thơ ngày nay viết để đọc chứ không phải để thuộc. Thơ viết khó hiểu mới hay, mới sang trọng. Chưa bao giờ thơ bị hiểu lầm nhiều như bây giờ. Nếu tình hình không được khắc phục thì hiểm họa đang tới dần: người làm thơ đông hơn người đọc. Và thậm chí dẫn đến cái chết của thơ ca. Trong tác phẩm về tôn giáo và con người, Tagore nói: “Trong mọi thứ mà văn minh thất bại và văn minh nhất, trong đó, con người cản trở phát hiện cái phổ biến”. Phát hiện cái phổ biến đó và tạo ra cái giá trị phổ biến, phải chăng là đi tìm mẫu số chung? Vậy cái gì đang ngăn cản các nhà văn đi tìm mẫu số chung? Có vấn đề thuộc về quan niệm, có vấn đề thuộc về tài năng, có vấn đề thuộc về vốn sống. Thiếu vốn sống là nguyên nhân quan trọng nhất ảnh hưởng đến sức khỏe của văn học. Với sự tập trung gần như triệt để các văn nghệ sĩ sống ở thủ đô, ở các trung tâm lớn như hiện nay, nếu không có biện pháp giúp họ đến với đời sống, hiểu thực tiễn thì diễn biến tiếp theo sẽ là tạo ra cái tháp ngà mới. Bác Hồ đã dạy: “Chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng cho sáng tác của nhà văn bằng những nguồn nhựa sống. Còn nếu nhà văn quên điều đó, nhân dân cũng sẽ quên anh ta”.

3. Vài kiến nghị cho văn hóa

Thông thường ở đâu và khi nào thì việc ưu tiên cho các mục tiêu kinh tế cũng là nhiệm vụ trọng tâm thu hút mọi nguồn lực của mọi quốc gia. Với việc đất nước trải qua nhiều năm chiến tranh như nước ta, hơn nữa, điểm xuất phát rất thấp thì việc ưu tiên cho các nhiệm vụ kinh tế là rất thỏa đáng và cần thiết. Tuy vậy, sự dồn sức tập trung cho kinh tế cũng kéo theo một quán tính là tạo ra một khoảng cách quá xa trong nhận thức và xử lý thực tiễn mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa. Người ta đã nói rất có lý rằng, tiết kiệm chi tiêu cho văn hóa đẻ ra sự lãng phí, là xây thêm các nhà tù. Do vậy, tiếp tục làm chuyển biến nhận thức, quan điểm và tìm các biện pháp khả thi nhằm phát triển văn học, nghệ thuật trong tình hình mới theo Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X, cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành cần triển khai lâu dài, mà trọng tâm là thể chế hóa thành cơ chế chính sách cụ thể, trong đó có việc tăng tỉ trọng đầu tư cho văn hóa.

Phát triển không đồng đều là quy luật phổ biến của tài năng. Do đó, việc đầu tư có trọng điểm là một biện pháp quan trọng để có những giá trị tiêu biểu. Và đó cũng là biện pháp khắc phục tình trạng dư hóa đang là thách thức không nhỏ đối với sự phát triển văn học, nghệ thuật hiện nay. Nhận thức này không mới nhưng rất khó khăn trong tổ chức thực hiện. Văn nghệ sĩ là những người tự tin nhất trong số những người tự tin. Không ai không cảm thấy mình không có tài mà lại là tài cao. Do đó, tránh dàn trải và cào bằng tuy đã được khảo luận nhiều nhưng chuyển biến còn rất hạn chế.

Cần chia sẻ nỗi khổ của những người làm quản lý của các Hội. Nhưng khó khăn mấy cũng phải kiên quyết làm việc này. Trước hết, cần phải có quy chế đầu tư, hỗ trợ hợp lý, lấy chất lượng hiệu quả làm nguyên tắc cao nhất. Kinh nghiệm của một số Hội là đầu tư đầu vào điểm xuất phát thì đều nhau, sau khi tác phẩm công diễn, xuất bản, căn cứ chất lượng thì đầu tư tiếp, theo chất lượng.

Đề nghị Nhà nước có chính sách giúp các nhà văn đi thực tế sáng tác. Với điều kiện nhuận bút thấp như hiện nay, để duy trì một đời sống bình thường đã là quá khó khăn, không nói gì đến việc đi thực tế. Chúng tôi coi việc đỡ đầu của các ngành, các địa phương, các cơ sở kinh tế giúp nhà văn đi thực tế là một công việc xã hội hóa quan trọng. Nhưng việc này chỉ có thể làm tốt khi có một chính sách thống nhất trong cả nước.

Trong các giải pháp phát triển văn học, việc ủng hộ và đầu tư cho hệ thống thư viện bốn cấp có ý nghĩa cả hai đầu, vừa có tác dụng đáp ứng quyền hưởng thụ văn hóa của nhân dân, vừa làm cho văn hóa hiện diện trong kinh tế, giúp nhà văn quảng bá tác phẩm.

Trong đổi mới chiến lược giáo dục sắp tới, cần thu hút nhiều nguồn trí tuệ của văn nghệ sĩ. Các nhà văn có đủ điều kiện cần được huy động vào việc xây dựng hệ thống sách giáo khoa và chương trình dạy văn các cấp. Bên cạnh đó, cần cải tiến triệt để phương pháp dạy-học văn hiện nay để văn học thực sự tham gia vào việc bởi dưỡng nhân cách và phát hiện tài năng.

 
 

 

 

 

* Tham luận của Nhà thơ Hữu Thỉnh - nguyên Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học, nghệ thuật Việt Nam; Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương - tại Hội thảo Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa do Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức.

 

Người đăng: Nhà báo, Ths. Chu Huy Phương