VẠT NẮNG YÊU THƯƠNG

VẠT NẮNG  YÊU THƯƠNG

Truyện ngắn: Tạ Thị Thanh Hải

 

      Hỏi thăm mãi cô giáo Tâm mới tìm được tới nhà của bé Mai, cô học trò vừa chuyển về từ Thái Nguyên về và được biên chế vào lớp 6C của cô. Sau ngày khai giảng, Mai đến trường học được đúng hai ngày thì vắng mặt. Cô Tâm hỏi cả lớp thì chúng nhao nhao mách tội nhau đã trêu chọc Mai, nhưng tuyệt nhiên không có bạn nào biết nhà của Mai ở đâu cả.

    Chiều mưa rả rích, trong ngôi nhà cấp bốn lụp xụp tuềnh toàng, cô Tâm ngồi lặng nghe bà Luyến, bà ngoại của bé Mai trải lòng. Những giọt nước mắt của người đàn bà đáng thương ấy khiến cô không khỏi chạnh lòng trước một cảnh đời bất hạnh.

***

     Hai vợ chồng bà Luyến bén duyên nhau khi cùng là công nhân của Công ty Gang thép Thái Nguyên. Lấy nhau gần chục năm, bao nhiêu tiền tích cóp dành dụm chữa chạy, bao nhiêu lời cầu khẩn khắp các đền phủ quanh vùng, mãi đến năm ba nhăm tuổi bà mới được trời thương mà ban cho mụn con gái. Bé Hạnh ra đời, tiếng cười khóc của đứa trẻ khiến căn phòng trọ chật hẹp trở nên ấm cúng hơn.

     Nhưng rồi ông trời cứ đọa đày những kiếp người cùng cực. Khi bé Hạnh lên tám tuổi thì chồng bà gặp tai nạn trong một đêm mưa gió. Ông nằm liệt giường hơn một năm thì mất. Mình bà trầy trật một đèn một bóng nuôi con. Các chị em cùng xóm trọ khuyên bà đi bước nữa để tìm kiếm chỗ dựa cho cả hai mẹ con. Nhưng bà lo sợ bi kịch xảy ra từ những mối duyên mọn rổ rá cạp lại có khi còn đau đớn hơn cả đói nghèo nên chẳng màng đến điều đó.

      Không còn sự uốn nắn dạy bảo của cha, mẹ thì ngập đầu trong công việc chẳng có nhiều thời gian để ý đến con, Hạnh lớn lên như một cây hoa dại mọc ven đường, nghịch ngợm và ương bướng. Thi thoảng, bà rỉ rả kể cho Hạnh nghe nỗi vất vả cơ cực của mình, những mong con thấu hiểu mà ngoan ngoãn nghe lời. Nhưng hình như nó chẳng thấm là bao. Lên cấp hai, nó càng ngỗ ngược hơn. Các thầy cô nhận xét rằng Hạnh khá thông minh nhưng ngang bướng, hay có những phản ứng tiêu cực, có lẽ là do sự biến đổi tâm sinh lý của tuổi dậy thì. Bà cứ sống trong sự thấp thỏm lo âu. Tuần nào mà không có phản ánh từ cô chủ nhiệm, ấy là một tuần yên bình với bà.

     Chưa học xong lớp chín, Hạnh cầm đầu nhóm học sinh cá biệt vây đánh một bạn trường khác chỉ vì dám đi nhờ xe của cậu bạn trai mà nó thích. Con dại cái mang, bà phải chạy vạy vay mượn để đền cho gia đình cô bé kia. Hạnh thì bị nhà trường kỉ luật và đó là cái cớ để nó bỏ học luôn rồi đàn đúm với bọn thanh niên lêu lổng quanh vùng. Nhiều lần bà khóc lóc van xin con hãy để cho bà được sống yên ổn làm ăn và trả nợ. Nhắc đến nợ thì nó quắc mắt lên: “Con có đòi mẹ phải sinh ra con đâu mà mẹ nói đến nợ. Hay mẹ muốn con đi bán thân để trả nợ? Cái sản phẩm lỗi này cũng đủ để mẹ trả nợ đấy.” Bà chỉ biết khóc, cay đắng nghĩ về những truân chuyên của kiếp mình. Những tưởng trời thương mà cho được mụn con làm nguồn vui. Nhưng không phải đứa trẻ nào cũng là một món quà của tạo hóa. Bà bất lực nhìn những trò ngạo ngược của con gây ra mà có lúc trộm nghĩ: giá như mình đừng sinh ra nó thì biết đâu đã chẳng phải muộn phiền thế này.

       Và khi các bạn cùng trang lứa tung tăng vào học cấp ba thì Hạnh bỏ nhà đi bụi. Có khi cả tháng nó mới tạt về qua nhà, đầu tóc xù đơ xanh đỏ, lúc thì nói là theo bạn bè đi buôn đồ gia dụng Trung Quốc, khi thì bảo đi làm cắt tóc gội đầu ở Hà Nội. Ở nhà được vài ngày nó lại đi, có khi còn vét cả nắm tiền lẻ trong túi mẹ. Bao đêm bà khóc đến cạn cả nước mắt, nghĩ về quãng đời lam lũ đã qua và dự cảm biết bao tai ương nghiệt ngã phía trước.

   Hạnh đi bặt tăm đến hơn năm sau thì mang về cho mẹ đứa con đỏ hỏn. Nó đặt chiếc làn nhựa đỏ sậm xuống cái giường ọp ẹp, lạnh lùng bảo: “Con bé này cũng là một sản phẩm lỗi. Con định bán nó sang Trung Quốc, nhưng nghĩ mẹ tuổi già cô đơn nên mang nó về để mẹ nuôi cho đỡ buồn.” Nó nói về đứa con dứt ruột đẻ ra mà như nói về con chó con mèo vậy. Nhìn Hạnh gầy tong teo, đứa trẻ thiếu sữa khóc ngằn ngặt, ruột bà xót như bỏ muối. Bà e dè hỏi về bố đứa bé thì Hạnh cười khẩy: “Làm sao mà con biết bố nó là thằng nào...”

     Bà khóc rấm rứt, kể lể nỗi khát con của mình để mong Hạnh sẽ động lòng nghĩ tới con mà tu tỉnh lại thì nó gắt lên: “Đã bảo là chưa bao giờ tôi đòi được sinh ra, mẹ hiểu chưa? Nào, giờ mẹ nói một câu thôi, có nuôi được con bé này không, hay để tôi đem bán, được bao nhiêu tôi cho mẹ tất.” Bà run rẩy ôm đứa cháu đỏ hỏn vào lòng, nước mắt cạn khô trong nỗi đau cùng kiệt. Hạnh ở nhà được hơn tuần, lại quơ quàng cái ba lô và vùng vằng đi.

     Bà đặt tên cho đứa cháu tội nghiệp ấy là Ánh Mai như muốn gửi gắm một tia hy vọng mong manh. Âu cũng là trời còn thương bà, con bé ngoan ngoãn dễ nuôi. Có nó bà đỡ cô quạnh nhưng cũng chật vật mưu sinh để nuôi cháu và luôn nơm nớp lo sợ rồi không biết con bé sinh ra trong hoàn cảnh này liệu có đi vào vết xe đổ của mẹ nó không?! Bà xin nghỉ làm công ty, sáng sớm đồ một chõ xôi để bán cho cánh công nhân, chiều muộn bày cái bàn nước dưới gốc cây bàng cổng công ty. Bà xin được một cái nôi cũ, đặt con bé vào đó, một tay khẽ kéo sợi dây đưa nôi đung đưa, tay kia quày quả pha trà cho khách. Tối nhọ mặt người, bà lại lụi cụi đẩy cái xe hàng nhỏ về xóm trọ. Trong chiếc nôi lắc lư bên hông xe, đứa bé ngủ ngặt ngoẹo như con mèo nhỏ. Nhìn cảnh ấy, hàng xóm ai cũng cảm thương, họ động viên bà hy vọng con bé lớn lên sẽ ngoan ngoãn, bù đắp yêu thương cho bà.

    Từ ngày mang con về cho mẹ, Hạnh càng đi biền biệt hơn. Bẵng đi vài năm, Hạnh dẫn về một gã trai kém nó hai tuổi, gương mặt cấc lấc, hai cánh tay xăm kín hình rồng phượng. Gã quê mãi miền Trung, nghe đâu cũng vì bất mãn với cha mẹ nên bỏ theo đám bạn đi buôn hàng biên giới. Hạnh tuyên bố: “Chúng con quyết định về đây lập nghiệp. Anh San sẽ thuê cửa hàng trên phố mở quán Internet. Con làm cắt tóc gội đầu bên cạnh. Mẹ có tiền tiết kiệm thì cho con vay một ít làm vốn.” Bà im lặng. Bé Mai ngơ ngác. Gã trai ngồi rít thuốc lá nhả khói mù mịt. Một nỗi lo sợ mơ hồ lại len lỏi trong tâm trí bà.

   Vài lần bà kiếm cớ đi lên phố, ngó xem cái cửa hàng của “vợ chồng” Hạnh làm ăn ra sao. Bà hiểu tính bốc đồng của con nhưng vẫn manh nha hi vọng biết đâu nó đã trải đời rồi mà biết quý trọng sự bình yên. Bà thấy cái tiệm “nét” của San toàn lũ choai choai đầu xanh đầu đỏ ra vào. Còn gian hàng bé tẹo sâu hun hút của  Hạnh ở ngay bên cạnh thì thi thoảng lại lòi ra một đứa con gái mặc áo hai dây trễ nải, nhâng nháo leo lên xe của một thằng trai nào đó phóng rồ đi. Bà thở dài sườn sượt, thất thểu ra về.

     Mang tiếng chỉ cách nhà vài cây số mà có khi cả tháng Hạnh không về thăm con. Con bé Mai đã quen với sự vắng mẹ nhưng thi thoảng thấy bà nấu món ngon, nó lại tần ngần: “Kể có mẹ Hạnh về ăn cùng thì vui, bà nhỉ?” Bà thương đến thắt ruột nhưng cũng mừng thầm vì con bé hiền lành nhu mì chứ không ngỗ ngược như mẹ nó. Mấy tháng sau Hạnh về đưa cho bà năm mươi triệu đồng, bảo bà đi gửi ngân hàng. Bà mừng rơi nước mắt, không phải vì có được số tiền lớn mà nghĩ có khi con bà đã biết tu tỉnh chí thú làm ăn làm lại cuộc đời.  

    Nhưng rồi những tai ương khủng khiếp vẫn giáng xuống đời bà. Một buổi chiều muộn, bà dọn hàng về nhà thì thấy con bé Mai ngồi rúm ró ở góc giường, vẻ mặt thất thần, tóc tai rũ rượi, thấy bà về thì lao ra ôm lấy bà khóc không thành tiếng. Bà dỗ dành mãi nó mới tức tưởi kể về hành động đồi bại của gã cha dượng. Trong cơn say, thằng cha vô luân ấy đã xâm hại con bé. Bà chết điếng người, lập cập gọi điện thoại cho Hạnh. Một lúc lâu Hạnh mới về đến nhà, vừa đến cửa đã gầm lên: “Thằng khốn nạn ấy nó còn cuỗm cả tiền sang nhượng tiệm Internet của tôi rồi. Tôi phải tìm nó bằng được. Tưởng ăn của con này mà dễ à?”  Hạnh đứng nhìn bé Mai trân trân một chút rồi lại tất tả đi. Có lẽ nó cay cú vì vừa bị mất một khoản tiền lớn hơn là xót xa cho đứa con ngây thơ vừa trải qua cơn khiếp đảm. Nhiều đêm sau đó, con bé Mai ú ớ kêu khóc trong cơn hoảng loạn, lòng bà lại đau như cắt.

    Hơn tháng sau, một buổi trưa, hai bà cháu đang ăn cơm thì có mấy anh công an dẫn Hạnh về, đọc lệnh khám nhà. Thì ra Hạnh có dính líu đến một đường dây tiêu thụ ma túy, lại can tội chứa gái mại dâm. Công an đã theo dõi nó mấy tháng nay. Bà rụng rời chân tay, con bé Mai sợ hãi ôm lấy bà khóc rưng rức. Hai tháng sau, Tòa tuyên Hạnh mười năm tù. Bà đau đớn dẫn bé Mai về quê ngoại, nương tựa người cháu họ xa, hy vọng con bé sẽ nguôi dần nỗi ám ảnh về tên bố dượng bất nhân và bớt đi cảm giác xấu hổ về người mẹ tội lỗi.

    Nhưng chỉ ngày thứ hai đi học ở lớp mới, bé Mai đã bị bọn bạn cùng lớp trêu chọc “đồ không có bố”, “con nhà tù”. Về nhà, con bé lao vào lòng bà ngoại khóc òa lên: “Bà ơi, từ mai con không đi học nữa đâu.” Bà chết lặng, ôm cháu vào lòng, thấy lưng áo đồng phục trắng của nó dính đầy mực, chiếc quai cặp sách lủng lẳng sắp đứt. Bà chẳng dám gặng hỏi, bởi không muốn khơi thêm nỗi đau trong trái tim non nớt của đứa cháu đáng thương.

***

      Nghe những lời tâm sự đắng đót của người đàn bà bất hạnh, cô Tâm không giấu nổi những giọt nước mắt cảm thông. Cô hiểu nỗi đau của bà, bởi chính cô cũng trải qua những ngày tháng đằng đẵng mỏi mòn trong nỗi khát con. Người đàn ông của cô không đủ kiên nhẫn và bao dung để vun đắp cho cái tổ ấm nguội lạnh nên đã đi tìm hạnh phúc mới. Bố mẹ cô đều đã mất. Hai người em gái thì lấy chồng xa. Cô chuyển từ thành phố về miền quê ven sông này như một cách chữa lành. Niềm vui sống của cô bây giờ là lũ học trò thuần hậu. Gần hai mươi năm đứng trên bục giảng, có lẽ đây là hoàn cảnh đáng thương nhất mà cô từng gặp. Ánh mắt thảng thốt của bé Mai đã chạm đến lòng trắc ẩn của cô. Với cô, mỗi đứa trẻ sinh ra đều là một món quà của tạo hóa. Cô muốn dang tay đón nhận món quà ấy để yêu thương, che chở. Cô ôm bé Mai vào lòng, rưng rưng…

   Mưa đã ngớt. Một vạt nắng cuối ngày chợt bừng lên lấp loá. Cô Tâm trở về nhà, không còn cảm giác trống trải khi phải đối mặt với nỗi cô đơn hiu quạnh, trong cô lúc này nhen lên niềm hy vọng ấm áp yêu thương.

                                                                                         Ảnh: Hoàng Thao

 

Người đăng: Nhà báo, Ths. Chu Huy Phương